Thứ Ba, 14 tháng 10, 2014

Ánh sáng thường hằng trong đền thờ của Thượng Tế vĩnh cửuTrích bài huấn đức của thánh Cô-lum-ban, viện phụ.
Thật là hạnh phúc và sung sướng cho những đầy tớ mà khi chủ về gặp thấy vẫn còn tỉnh thức. Thật là cuộc canh thức hồng phúc, khi người ta canh thức đón chờ Thiên Chúa, Đấng sáng tạo muôn loài, hiện hữu trong vạn vật và vượt lên trên tất cả.
Cả tôi nữa, dù là kẻ hèn mọn, nhưng cũng là tôi tớ của Chúa, đang mê mệt trong giấc ngủ của tính lười biếng : ước gì tôi được Thiên Chúa đoái thương đánh thức dậy, được lửa tình yêu của Người thiêu đốt, ước gì ngọn lửa yêu mến ấy bùng lên mạnh hơn các tinh tú trên trời, cho tôi khao khát tình yêu nồng nàn của Người, cho lửa của Người luôn luôn rực cháy trong tôi.
Phải chi suốt đêm trường, trong đền thờ của Chúa, tôi có sức cầm đèn sáng trong tay, để soi sáng cho tất cả những ai vào nhà Chúa ! Lạy Chúa, nhân danh Đức Giê-su Ki-tô là Con Chúa và là Thiên Chúa của con, con xin Chúa ban cho con đức mến không tàn lụi, để đèn của con chỉ biết chiếu sáng chứ không tắt lịm ; ước gì nó thiêu đốt con và soi sáng kẻ khác.
Còn Ngài, lạy Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ rất dịu hiền của chúng con, xin đoái thương thắp lên những ngọn đèn của chúng con, sao cho luôn chói sáng trong đền thờ của Ngài, và tiếp nhận được ánh sáng thường hằng từ Ngài là ánh sáng thường hằng, để những sự tối tăm của chúng con được chiếu sáng và những sự tối tăm của thế gian bị đẩy ra khỏi chúng con.
Lạy Chúa Giê-su của con, con xin Chúa tuôn đổ ánh sáng của Chúa xuống ngọn đèn của con, để nhờ ánh sáng đó chiếu soi, con thấy được nơi cực thánh, nơi đón Chúa ngự vào giữa hàng thần thánh trong đền thờ cao cả của Chúa. Chúa là Thượng Đế đời đời thuộc về thế giới vĩnh cửu. Nhờ vậy, con mãi mãi được thấy, được ngắm nhìn và khao khát Chúa, chỉ ngất ngây chiêm ngưỡng Chúa mà thôi và ước gì đèn của con luôn sáng chói và cháy rực trước nhan Ngài.
Lạy Đấng Cứu Độ rất mến yêu, này chúng con đang gõ cửa, xin mở cho chúng con được thấy Chúa, để một khi hiểu biết Chúa, chúng con chỉ yêu mến Chúa, yêu mến một mình Chúa, chỉ khao khát một mình Chúa, ngày đêm chỉ suy gẫm về Chúa và tưởng nhớ đến Ngài. Xin đoái thương khơi dậy trong chúng con lòng mến Chúa thiết tha, như Chúa là Thiên Chúa phải được hết mực mến yêu và quý trọng.KS, Thu 3, CNXXVIII TN

Thứ Năm, 21 tháng 8, 2014

Hội Thánh cất tiếng ca dịu dàngTrích tông hiến Chúa Thánh Thần linh hứng của thánh giáo hoàng Pi-ô X.
Nhờ ơn linh hứng của Thiên Chúa, các thánh vịnh đã được sáng tác. Sưu tập các thánh vịnh đã được đưa vào Kinh Thánh để, ngay từ thời đầu của Hội Thánh, rõ ràng là các thánh vịnh đã có sức nung đúc lòng đạo của các tín hữu một cách lạ lùng. Họ dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, tức là dùng miệng lưỡi mà ca tụng Thánh Danh. Không những thế, theo thói quen đã có từ thời luật cũ, rõ ràng là các thánh vịnh còn góp phần hiển nhiên vào Phụng vụ thánh và Kinh Thần vụ. Từ đó phát sinh “tiếng nói của Hội Thánh”, như thánh Ba-xi-li-ô thường gọi. Tiếng nói đó chính là lối hát thánh vịnh, hay theo cách gọi của vị tiền nhiệm chúng tôi là đức U-ba-nô VIII, thì tiếng nói đó chính là ái nữ của thánh thi ca ngợi hằng được hát lên trước ngai Thiên Chúa và Con Chiên. Theo thánh A-tha-na-xi-ô thì thánh thi còn dạy cho những người đặc biệt lãnh trách nhiệm cử hành phụng tự biết phải ca ngợi Thiên Chúa làm sao, và phải dùng lời lẽ nào mà xưng tụng Người cho phải đạo. Về vấn đề này, thánh Âu-tinh cũng có những lời rất đẹp : “Vì Thiên Chúa muốn cho nhân loại ca ngợi Người một cách xứng hợp, nên Người đã tự ca ngợi mình trước ; Thiên Chúa đã vì thương mà tự ca ngợi chính mình, nên loài người mới biết cách ca ngợi Thiên Chúa.”
Các thánh vịnh cũng có một sức mạnh nội tại phi thường, có khả năng khơi dậy trong các tâm hồn nỗi khát khao mọi nhân đức. Thật vậy, theo thánh A-tha-na-xi-ô, “toàn bộ Kinh Thánh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, đều đã được Thiên Chúa linh hứng và đều hữu ích cho việc giảng dạy, như Kinh Thánh đã chép. Dầu vậy, sách Thánh vịnh ví được như địa đàng có hoa trái của mọi sách khác : sách này đem lại những bài ca, và khi những bài ca đó được hát lên, sách này lại cho ta những hoa trái đặc sắc bên cạnh các sách khác”. Thánh A-tha-na-xi-ô còn thêm một điều chí lý : “Đối với tôi, thánh vịnh ví tựa tấm gương cho người hát soi mình, để, nơi các thánh vịnh, người hát có thể ngắm nghía chính mình cùng với các rung động của riêng tâm hồn mình, và như thế, họ sẽ đầy tâm tình khi ngâm nga thánh vịnh.” Trong sách “Tự thuật”, thánh Âu-tinh cũng viết : “Con đã khóc ròng khi nghe những bản thánh thi và thánh ca dâng kính Ngài, vì quá cảm kích trước giọng ca dịu dàng của Hội Thánh Ngài. Giọng ca ấy rót vào tai con, thì chân lý cũng thấm vào lòng con, khiến rực lên trong con những tâm tình sốt mến, rồi nước mắt tuôn đổ và hạnh phúc trào dâng.”
Quả thế, ai lại không cảm động trước rất nhiều đoạn thánh vịnh hết lời xưng tụng uy nghi vô tận và uy quyền toàn năng của Thiên Chúa, xưng tụng đức công chính, lòng nhân hậu và từ tâm khôn tả, cũng như nhiều phẩm tính vô cùng đáng ca tụng khác của Người ? Ai lại không cảm thấy những tâm tình giống như thế khi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn lành Người đã ban, hay khi khiêm tốn và tin tưởng cầu xin những điều mình đang mong đợi, hoặc khi cất tiếng kêu van tự đáy lòng thống hối tội lỗi ? Ai lại không cảm thấy bừng cháy lòng yêu mến trước hình ảnh Đức Ki-tô, Đấng Cứu Thế, được hoạ lại cẩn thận ? Thật vậy, thánh Âu-tinh “đã nghe thấy tiếng của Đấng Cứu Thế trong mọi thánh vịnh, khi thì đàn ca, khi lại rên siết, lúc thì hân hoan trong hy vọng, lúc lại thở than trong hoàn cảnh hiện tại”.Trích từ kinh sách, lễ thánh PIO X, 21/08

Chủ Nhật, 3 tháng 8, 2014

Cầu nguyện và yêu mến : phận sự cao quý của con ngườiTrích bài giáo huấn của thánh Gio-an Ma-ri-a Vi-a-nê.
Các con thân mến, kho tàng của người Ki-tô hữu không phải ở dưới đất, nhưng ở trên trời. Thế thì lòng trí chúng ta phải hướng đến nơi có kho tàng của chúng ta.
Con người có một bổn phận cao đẹp là cầu nguyện và yêu mến... Các con cầu nguyện, các con yêu mến : đó là hạnh phúc của con người trên trần gian.
Cầu nguyện không gì khác hơn là kết hợp với Thiên Chúa. Khi có tâm hồn trong sạch và gắn bó với Thiên Chúa, ta thấy nơi mình một thứ hương thơm dịu dàng ngây ngất, một luồng ánh sáng rực rỡ chói chang. Trong mối kết hợp mật thiết này, Thiên Chúa và linh hồn tựa hai khối sáp nóng chảy hoà vào nhau, không thể tách rời nhau nữa. Thiên Chúa kết hợp với thụ tạo bé nhỏ của Người : đẹp đẽ biết bao ! Hạnh phúc này, không sao hiểu thấu.
Xưa kia chúng ta chẳng xứng đáng cầu nguyện, nhưng Thiên Chúa đã thương cho chúng ta được thưa chuyện với Người. Lời cầu nguyện của chúng ta là làn hương thơm rất đẹp lòng Người.
Các con thân mến, trái tim các con nhỏ hẹp, nhưng lời cầu nguyện sẽ khiến nó mở rộng và có sức yêu mến Thiên Chúa... Cầu nguyện là nếm trước hạnh phúc trời cao, là làm cho phúc lộc thiên đàng tuôn đổ. Không bao giờ cầu nguyện mà không thấy dịu êm. Cầu nguyện là mật chảy vào hồn, biến tất cả nên êm ái ngọt ngào. Buồn phiền cực nhọc sẽ biến tan khi cầu nguyện sốt sắng, tựa tuyết tan dưới ánh mặt trời.
Cầu nguyện làm cho thời gian đi rất mau và đầy hứng thú, khiến ta không cảm thấy lâu. Đúng vậy : hồi các cha sở vùng Bơ-rét-xơ bị bệnh hầu hết, cha phải đi khắp vùng. Cha vừa đi vừa cầu nguyện với Thiên Chúa nhân lành. Nói thật với các con là cha chẳng thấy lâu gì cả.
Cha biết có những người đắm chìm trong cầu nguyện như cá trong nước. Họ thuộc trọn về Thiên Chúa nhân lành. Họ không bị chia trí. Ôi, cha mến những tâm hồn quảng đại này quá ! Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di và thánh Co-lê-ta trông thấy Chúa và chuyện vãn với Người như chúng ta vẫn trò chuyện với nhau. Còn chúng ta, biết bao lần chúng ta đến nhà thờ mà chẳng biết mình đến để làm gì, cũng chẳng biết mình muốn xin gì ! Thế mà khi đến nhà ai thì ta lại biết rõ mình đến để làm gì... Có những người như muốn nói với Thiên Chúa nhân lành rằng : “Con đến nói mấy câu cho xong chuyện với Chúa đây...” Cha thường nghĩ rằng : Khi đến tôn thờ Chúa, chúng ta sẽ được mọi điều như sở nguyện, với điều kiện là lời cầu xin của chúng ta đi đôi với một đức tin sống động và một tấm lòng thật trong trắng.Lễ Thánh Gioan Vianey 4/8 Kinh sách

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

Bà khao khát tìm gặp Đức Ki-tô
mà bà tưởng người ta đã đem đi mất
Trích bài giảng của thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, về bài Tin Mừng.
Khi bà Ma-ri-a Ma-đa-lê-na đến mộ và không thấy xác Chúa ở đó, bà tưởng người ta đã đem đi mất, nên đi báo tin cho các môn đệ. Các ông đã đến, đã thấy và tin như người phụ nữ đã nói. Rồi sau đó Kinh Thánh lại viết về các ông rằng : Các môn đệ trở về nhà và tiếp theo ngay : Bà Ma-ri-a đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc.
Vì thế, cần phải suy nghĩ xem sức mạnh của lòng yêu mến đã đốt cháy tâm trí của người phụ nữ này như thế nào. Dù các môn đệ bỏ mộ Chúa ra về, bà vẫn không chịu bỏ về. Bà cố tìm Đấng bà không gặp, vừa khóc vừa tìm, và vì lửa yêu mến bùng lên, bà khao khát tìm gặp Đấng bà tưởng người ta đã đem đi mất. Vì bà ở lại để tìm, cho nên bà là người duy nhất được gặp thấy Chúa, bởi vì sự kiên trì là sức mạnh không nhỏ của bất cứ việc lành nào. Đấng là chân lý đã nói : Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.
Vậy trước hết bà đã tìm mà chẳng gặp ; bà cứ kiên trì tìm kiếm và rốt cuộc bà đã gặp. Sự thể là ao ước mà không được mãn nguyện, thì càng ao ước hơn ; khi lòng ao ước tăng lên, thì nó sẽ chiếm hữu điều nó tìm được. Quả thật, lòng ao ước thánh thiện càng bị trì hoãn thì càng tăng. Còn nếu lòng ao ước vì bị trì hoãn mà suy giảm thì không phải là ao ước thật. Bất cứ ai muốn đạt tới chân lý, thì phải cháy lên ngọn lửa tình yêu này. Như vua Đa-vít đã nói : Linh hồn con khao khát Chúa Trời là Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan ?, và Hội Thánh còn nói trong sách Diễm ca : Trái tim tôi đã bị thương tích vì tình yêu rồi thêm : Tâm hồn tôi tan chảy.
Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ? Bà được hỏi vì sao bà đau buồn là để cho lòng ao ước của bà tăng thêm ; vì khi bà nhắc đến Đấng bà đang tìm, thì lòng bà càng cháy lửa yêu mến Người hơn nữa.
Đức Giê-su gọi bà : Ma-ri-a ! Sau khi Người đã gọi bà theo cách nói chung và bà không nhận ra, thì Người gọi bà đích danh. Dường như Người muốn nói với bà : “Chị hãy nhận ra Đấng đã nhận chị. Thầy không biết chị như biết bất cứ ai, Thầy biết rõ chị.” Vậy bà Ma-ri-a vì đã được gọi đích danh, nên bà đã nhận ra Đấng tác thành, và bà liền kêu lên : Ráp-bu-ni, nghĩa là lạy Thầy. Bởi chính Đấng bà đôn đáo tìm kiếm, thì cũng đang dạy dỗ trong tâm hồn bà để bà tìm kiếm Người.22/07 Lễ nhớ thánh nữ Maria Madalena
Nước Thiên Chúa là bình an và hoan lạc trong Thánh ThầnTrích sách Gương Chúa Giê-su.
Bạn hãy hết lòng trở về với Thiên Chúa và từ bỏ thế gian khốn khổ này, thì tâm hồn bạn sẽ được nghỉ ngơi. Thật vậy, Nước Thiên Chúa là bình an và hoan lạc trong Thánh Thần : Đức Ki-tô sẽ đến với bạn, mang lại cho bạn niềm an ủi của Người, nếu bạn dọn sẵn trong lòng một nơi ở xứng đáng với Người.
Tất cả vinh quang và vẻ đẹp của Người đều phát xuất từ bên trong, và Người thích ở đó. Người thường hay thăm viếng con người nội tâm để hàn huyên tâm sự, an ủi vỗ về, tuôn đổ bình an và tỏ tình thân thiết khiến ta rất đỗi ngạc nhiên.
Vậy, hỡi linh hồn trung tín, hãy dọn sẵn tâm hồn bạn đón vị Hôn Phu, để Người đến với bạn và đoái thương ngự trong lòng bạn, vì Người nói : Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.
Vậy bạn hãy dành cho Đức Ki-tô một chỗ. Khi có Đức Ki-tô, bạn sẽ nên giàu sang phú quý và như thế là đủ cho bạn rồi. Chính Người sẽ lo liệu cho bạn, cung cấp mọi sự cho bạn một cách chu đáo để bạn khỏi cần trông cậy ở người đời.
Bạn hãy đặt hết lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, hãy kính sợ và yêu mến một mình Người mà thôi. Chính Người sẽ trả lời thay cho bạn, sẽ làm cho bạn những gì tốt nhất.
Trên đời này, bạn không có thành trì bền vững, và dù ở đâu, bạn cũng chỉ là ngoại kiều, là lữ khách, chẳng lúc nào bạn được nghỉ ngơi trừ khi bạn kết hợp mật thiết với Đức Ki-tô.
Ước gì tư tưởng của bạn luôn ở bên Đấng Tối Cao, và lời cầu khẩn của bạn không ngừng hướng về Đức Ki-tô. Nếu bạn không biết suy ngắm những sự cao siêu trên trời, thì hãy tìm an nghỉ trong cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô và sẵn lòng ở lại trong các thương tích thánh của Người. Bạn hãy chịu đau khổ với Đức Ki-tô và vì Đức Ki-tô, nếu bạn muốn hiển trị với Đức Ki-tô.
Giả như bạn được một lần sống hoàn toàn thân mật với Đức Giê-su và được nếm dù chỉ một chút tình yêu nồng nàn của Người, thì bấy giờ, bạn sẽ không còn lo gì đến sướng khổ cho riêng mình. Trái lại, bạn sẽ lấy làm vui sướng hơn vì được chịu sỉ nhục, bởi lẽ tình yêu Đức Giê-su làm cho người ta khinh chê chính mình.KS, thứ 4, CN XVI QN
Được thông phần đau khổ của Đức Ki-tôTrích bài giảng của thánh Gio-an Kim Khẩu, giám mục, về Tin Mừng theo thánh Mát-thêu.
Các con ông Dê-bê-đê đã nài nỉ Đức Ki-tô điều này : Xin Thầy truyền cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy. Vậy Người đã trả lời ra sao ? Người đã tỏ cho các ông thấy là điều các ông xin chẳng có gì do thần khí thúc đẩy, và nếu các ông hiểu điều mình xin, thì chắc chắn các ông đã không bao giờ xin như vậy. Người đã nói : Các anh chẳng biết các anh xin gì ! Vì điều xin ấy thật lớn lao, thật lạ lùng, còn trổi vượt mọi quyền thần trên trời biết mấy. Rồi Người nói thêm : Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, và chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không ? Người như muốn nói : “Các anh nói đến hưởng danh dự, triều thiên với Thầy ; còn Thầy, Thầy nói đến chiến đấu và mồ hôi. Vì bây giờ chưa phải là thời thưởng công, và bây giờ vinh quang của Thầy cũng chưa được tỏ hiện, nhưng cuộc sống hiện tại đầy chết chóc, chiến tranh và nguy hiểm.”
Bạn xem, Người đã dùng cách hỏi như thế nào để khuyến khích và lôi cuốn. Quả thật, Người không nói : “Các anh có thể chịu chết được chăng ? Các anh có thể đổ máu mình ra không ?” Nhưng Người hỏi thế nào ? Các anh có uống nổi chén không ? Rồi để lôi cuốn các ông, Người nói chén Thầy sắp uống, để nhờ được thông phần với Người mà các ông sẽ được can đảm hơn. Người còn gọi đó là một phép rửa, khi cho mọi người biết một cuộc thanh tẩy lớn lao sẽ xảy ra trên khắp địa cầu. Sau đó các ông trả lời Người : Thưa được. Vì lòng hăng say các ông hứa tức khắc, mà không biết mình nói gì, nhưng hy vọng rằng điều mình xin sẽ được nhận.
Vậy Người nói gì ? Chén Thầy uống, anh em cũng sẽ uống ; phép rửa Thầy chịu, anh em cũng sẽ chịu. Người đã báo trước cho các ông những hồng ân lớn lao, nghĩa là : “Anh em đáng được phúc tử đạo, sẽ chịu những đau khổ mà Thầy chịu, sẽ kết thúc cuộc đời bằng cái chết thảm thương ; và như thế anh em được thông phần đau khổ với Thầy.”Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã dọn sẵn cho ai thì kẻ ấy mới được. Sau khi nâng tâm hồn các ông dậy, Người đã làm cho các ông trở nên cao thượng hơn, và cho các ông thắng vượt nỗi buồn phiền, bấy giờ Người mới chữa lại lời xin của các ông.
Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với hai anh em này. Bạn có thấy không ? Tất cả các ông đều bất toàn biết mấy, hai anh em thì tìm cách vượt lên trên mười ông kia, còn mười ông kia thì lại ganh tị với hai ông này. Nhưng, như tôi đã nói, sau đó bạn hãy cho tôi thấy các ông sẽ ra sao, và bạn sẽ thấy tất cả các ông đều không còn tình ý như thế nữa. Bạn hãy nghe, chính ông Gio-an là người bây giờ xin điều này, thì sẽ luôn nhường chỗ nhất cho ông Phê-rô, khi ông Phê-rô giảng và làm phép lạ như sách Công vụ Tông Đồ kể. Còn ông Gia-cô-bê thì sau đó không sống lâu lắm ; vì ngay từ buổi đầu Hội Thánh, ông đã đầy hăng say nhiệt thành, đã bỏ mọi sự đời này mà lên tới đỉnh cao khôn tả nên ông sớm được phúc tử đạo.Lễ thánh Giacôbê tông đồ, bài đọc 2 KS

Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

Chỉ có một lời nguyện, một hy vọng trong đức ái,
trong niềm vui thánh thiện
Trích thư của thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô-khi-a, giám mục, tử đạo, gửi giáo đoàn Ma-nhê-xi-a.
Vì qua các nhân vật vừa đề cập đến, tôi nhìn thấy và yêu mến toàn thể cộng đoàn anh em trong đức tin, nên tôi khuyên anh em hãy ra sức làm mọi việc trong tinh thần hoà hợp của Thiên Chúa, dưới quyền chủ toạ của giám mục thay thế Thiên Chúa và các linh mục thay thế Tông Đồ đoàn, cùng với các trợ tá mà tôi rất thương mến là những người đã nhận được thừa tác vụ do Đức Giê-su Ki-tô giao phó, Đấng đã có từ trước muôn thuở nơi Chúa Cha và đã xuất hiện vào thời cuối cùng. Vậy, sau khi đã sống theo những thói tục lành thánh, anh em hãy kính trọng lẫn nhau, đừng ai nhìn người thân cận theo con mắt xác thịt, mà phải luôn yêu mến nhau trong Đức Giê-su Ki-tô. Anh em không được làm điều gì có thể gây chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy hợp nhất với giám mục và các vị lãnh đạo, để làm mô hình chứng tỏ có đời sống bất diệt.
Vậy, như Chúa đã không bao giờ làm gì, hoặc tự mình hoặc qua các Tông Đồ, mà không có Chúa Cha và không kết hợp mật thiết với Người, thì anh em cũng đừng làm gì mà không có giám mục và linh mục. Đừng biện bạch mà cho việc làm riêng lẻ của anh em là hợp lý, nhưng phải đoàn kết với nhau để có chung một lời nguyện, một lời cầu, một lòng trí, một hy vọng trong đức ái, trong niềm vui thánh thiện ; chỉ có một Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cao trọng hơn hết. Mọi người hãy chạy như thể chạy vào một đền thờ duy nhất của Thiên Chúa, như thể đến một bàn thờ duy nhất, đến cùng Đức Giê-su Ki-tô duy nhất là Đấng phát xuất từ Chúa Cha duy nhất, hằng ở cùng Chúa Cha duy nhất và đã trở về với Người.
Anh em đừng để cho mình bị huyễn hoặc vì những học thuyết xa lạ và những chuyện cổ tích hoang đường vô bổ. Quả thật, nếu chúng ta còn sống theo luật Do-thái, thì phải thú nhận rằng mình đã không lãnh nhận ân sủng. Các ngôn sứ của Thiên Chúa đã sống theo Đức Giê-su Ki-tô. Chính vì thế mà các ngài đã bị ngược đãi. Được chính Thiên Chúa ban ơn linh hứng, các ngài đã làm cho những kẻ không tin xác tín rằng có một Thiên Chúa duy nhất đã tỏ mình ra qua Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Lời của Chúa Cha đã từ cõi thinh lặng mà đi ra, và trong hết mọi sự đã làm đẹp lòng Chúa Cha, Đấng đã sai Người.
Vậy những ai đã sống trong chế độ lề luật cũ, thì nay đã có niềm hy vọng mới, vì không còn giữ ngày sa-bát nữa, nhưng sống theo tinh thần ngày của Chúa là ngày mà sự sống của chúng ta đã bừng lên nhờ Người và nhờ cái chết của chính Người. Một số người phủ nhận mầu nhiệm đó, còn chúng ta thì nhờ mầu nhiệm đó, đã lãnh nhận đức tin và kiên trì chịu đựng để được công nhận là môn đệ của Đức Giê-su Ki-tô, bậc thầy duy nhất của chúng ta. Làm sao chúng ta có thể sống mà không có Người ? Ngay cả các ngôn sứ xưa, vì là môn đệ của Người theo tinh thần, cũng đã chờ đợi Người như bậc thầy. Vì thế, Đấng mà các ngài đợi trông đang khi sống chính trực, đã cho các ngài được trỗi dậy từ trong kẻ chết, khi Người ngự đến. Kinh Sách thứ 2, 16 QN